MODLUE 14

PHƯƠNG PHÁP TƯ VẤN VỀ GIÁO DỤC MẦM NON CHO CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI

 

PHẦN I, VAI TRÒ TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC MẦM NON

Hoạt động 1: Tìm hiểu vai trò tư vấn của giáo viên mầm non

1. Nhiệm vụ của trường mầm non và của giáo viên mầm non được quy định trong các văn bản pháp quy của nhà nước ( Luật giáo dục, Điều lệ Tường mầm non,…)

    Điều 93 Luật Giáo dục 2005 quy định của nhà trường có trách nhiệm chủ động phối hợp với gia đình và xã hội để thực hiện mục tiêu nguyen lý giáo dục.

   Điều 46 Điều lệ Trường mầm non quy định trách nhiệm của nhà trường cần phối hợp với cơ quan tổ chức chính trị xã hội và cá nhân có liên quan n nhằm:

- Tuyên truyền phổ biến kiến thức khoa học nuôi dạy trẻ cho cha mẹ và cộng đồng, thực hiện phòng bệnh khám sức khỏe định kỳ cho trẻ em trong nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập.

- Huy động các nguồn lực từ cộng đồng chăm lo sự nghiệp giáo dục mầm non, góp phần xây dựng cơ sở vật chất, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, an toàn để nâng cao chất lương nuôi dưỡng chăm sóc và giáo dục trẻ em.

   Điều 35 Điều Lệ Trường mầm non quy định giáo viên có nhiệm vụ thực hiện các nghĩa vụ công dân, các quy định của pháp luật và của ngành, các quy định của nhà trường các quy định của hiệu trưởng. Như vậy việc thực hiện các công tác tư vấn cho trẻ là một trong nhiệm vụ quan trọng của giáo viên quan trọng nhà trường giao phó.

2. Việc tăng cường sự phối hợp giữa các ban ngành, tổ chức đoàn thể xã hội góp phần thúc đẩy sự phát triển giáo dục mầm non.

   Để khắc phục những khó khăn thách thức đặt ra cho giáo viên mầm non hiện này như kinh phí đầu tư còn hạn hẹp so với yêu cầu phát triển, cơ sở trang thiết bị trường lớp còn lạc hậu và còn thiếu thốn đặc biệt ở những vùng khó khăn

   Thay đổi về nhận thức về cách làm giáo dục của mọi thành phần trong xã hội nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục nói chung, giáo dục mầm non nói

riêng một cách nhanh, mạnh hiệu quả và bền vững.
3. Các tổ chức xã hội có nhu cầu tìm hiểu về giáo dục mầm non nhằm thực hiện vai trò, trách nhiệm đối với sự phát triển giáo dục mầm non.

    Các tổ chức xã hội địa phương bao gồm các tổ chức chính trị, kinh tế, xã hội như: Hội phụ nữ, đoàn thanh niên, mạt trận tổ quốc, hội khuyến học, hội người cao tuổi, hội chiến binh…

   Các tổ chức có vai trò quan trọng trong việc tạo môi trường văn hóa, xã hội kinh tế, đạo đức pháp luật tạo điều kiện thuận lợi cho trường mầm non trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ

Hoạt động 2: tìm hiểu vai trò của các tổ chức xã hội trong phát triển giáo dục mầm non.

1. Các quy định trong văn bản pháp luật.

   Mô hình hoạt động của các cơ sở giáo dục mầm non ở Việt Nam và trên thế giới đều cho thấy rằng GDMN gắn chặt với các sinh hoạt của cộng đồng, cần sự tham gia và phối hợp của các tổ chức xã hội, gia đình và cộng đồng, trong đó giáo dục là đầu mối liên kết các ngành khác nhằm thực hiện có hiệu quả công tác chăm sóc giáo dục trẻ.

   Hiến pháp của nước CHXHCNVN và nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan đến trẻ em đều thể hiện rõ quan điểm nhất quán của Đảng và nhà nước ta có trách nhiệm của gia đình và xã hội và nhà Nước trong việc bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ em.

   Các tổ chức xã hội không những chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của nhà nước và phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em nhằm đảm bảo việc thực hiện đầy đủ quyền của trẻ em mà theo quy định còn có trách nhiệm rất lớn trong việc phối hợp với gia đình, thực hiện công tác tuyên truyền, vận động nhằm tạo nên phong trào của toàn xã hội trong việc phát triển phúc lợi xã hội cho trẻ em, tham gia cung cấp các dịch vụ chăm sóc, trợ giúp trẻ em  bảo đảm về chất lượng và số lượng về dịch vụ đó.

   Từ tháng 6/2004, Quốc hội đã sử đổi luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em nhằm tăng cường tình hiệu lực, làm rõ trách nhiệm của mình, của chính phủ, cán bộ các ban ngành và tổ chức trong việc bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ em.

2. Vai trò nhiệm vụ của các tổ chức xã hội đối với sự phát triển giáo dục mầm non.

   Mỗi tổ chức xã hội có trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ tùy thuộc vào phạm vi chức năng, nhiệm vụ cơ sở năng lực riêng, điều quan trọng là mỗi thành viên trong tổ chức đó phải tự giác tham gia một cách có hiệu quả nhất vào trong công tác tuyên truyền phát triển GDMN.

   Hội phụ nữ: Hội liên hiệp phụ nữ Việt nam là tổ chức chính trị - xã hội tập hợp rộng rãi các tầng lớp phụ nữ.

   Hội phụ nữ địa phương có vai trò trách nhiệm:

- Nâng cao nhận thức và năng lực của phụ nữ, của nhân dân để họ tham gia tích cực vào việc tổ chức, quản lý thực hiện các hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ huy động các gia đình huy động trẻ trong độ tuổi đến lớp, đến các cơ sở giáo dục mầm non.

   Giáo dục không mang tính bắt buộc đối với người học, do đó tỷ lệ huy động trẻ đến lớp phụ thuộc vào nhận thức của cộng đồng và gia đình, các nguồn lực đảm bảo cho trẻ được chăm sóc giáo dục trẻ tại các cơ sở GDMN hầu hết do cha mẹ trẻ đóng góp.

   Khuyến khích các gia đình tự nguyện đưa con em đến gửi và tham gia đầy đủ nghĩa vụ đóng góp về vật chất và tinh thần theo yêu cầu của cơ sở giáo dục mầm non và tiếp cận vơi các dịch vụ GDMN công lập và ngoài công lập.

   Vận động hội viên cùng đội ngũ giáo viên màm non thực hiện công tác phổ biến kiến thức và kĩ năng nuôi dạy trẻ dưới 6 tuổi cho các bậc cha mẹ và cộng đồng: Cho trẻ ăn đầy đủ chất dinh dưỡng, cách chế biến các bữa ăn đủ dinh dưỡng cho trẻ từ thực phẩm sẵn có của gia đình, địa phương đưa trẻ đi tiêm chủng các bệnh truyền nhiễm….

 - Tổ chức phát thanh các vấn đề về về: Các kiến thức khoa học nuôi dạy trẻ, tình hình trẻ mầm non đến trường, hoạt động của trường mầm non.

- Tham gia tổ chức mộ số hội thi “Nuôi con khỏe, dạy con ngoan”, hội thi “ Ông bà cha mẹ mẫu mực, con cháu hiếu thảo”

- Tham gia tổ chức câu lạc bộ “ Câu lạc bộ nữ thanh niên” Câu lạc bộ “ Không sinh con thứ 3”….

- Hỗ trợ các nhóm trẻ gia đình các nhóm lớp mầm non tư thục.

- Đưa tiêu chí của hoạt động tuyên truyền GDMN vào thành một trong các chỉ tiêu thi đua cảu các chi hội và có hình thức khen thưởng kịp thời với các đơn vị làm tốt.

* Hội khuyến học là tổ chức tự nguyện của những người tâm huyết với sự nghiệp trồng người, tích cực tham gia xã hội hóa giáo dục, góp sức phấn đấu cho phong trào “ Toàn dân học tập tòa ân tham gia xã hội hóa giáo dục, góp sức phấn đấu cho phong trào “ Toàn dân học tập toàn dân tham gia làm giáo dục” nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực bồi dưỡng nhân tài cho đất nước nước.

   Tại địa phương hội khuyến học là một trong những tổ chức nòng cốt thúc đẩy xã hội hóa GDMN.

- Với vị trí và vai trò của mình, hội khuyến học kết hợp với các tổ chức khác, tuyên truyền động viên toàn xã hội tích cực đóng góp về vật chất và tinh thần nhằm phát triển giáo giục mầm non, tạo điều kiện cho mọi trẻ em lứa tuổi mầm non được tới trường, mọi trẻ em được hưởng chế độ chính sách nhà nước chăm lo cho trẻ thơ, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của đội ngũ cán bộ giáo viên mầm non nhằm khuyến khích họ tổ chức thực hiện tốt hoạt động CS- GD trẻ.

- Hội viên tham gia với tư cách là báo cáo viên, tuyên truyền viên trong việc phổ biến kiến thức và kỹ năng nuôi dạ trẻ dưới 6 tuổi cho các bậc cha mẹ và cộng đồng.

- Vận động các bậc cha mẹ và cộng đồng tích cực tham gia các buổi học tập hoặc hưởng ứng các hoạt động khác của công tác tuyên truyền phổ biến kiến thức và kĩ năng cho trẻ dưới 6 tuổi.

- Vận động hội viên tham gia trong việc vận động trẻ đến lớp mẫu giáo, hỗ trợ công tác tổ chức nhóm trẻ gia đình và nhóm lớp mầm non tư thục.

- Tham gia tổ chức hội thi: ông bà cha mẹ mẫu mực và con cháu hiếu thảo.

- Tổ chức một số phong trào gia đình hiếu học và dòng họ khuyến học.

* Mặt trận tổ quốc Việt Nam là một bộ phận trong hệ thống chính trị của nước CHXHCNVN. Đây là tổ chức ngoại vi của Đảng cộng sản Việt nam, tập hợp các đoàn thể không trực thuộc Đảng.

   Mặt trận tổ quốc Việt Nam ngày nay là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị -  xã hội, tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp tầng lớp xã hội, các dân tộc các tôn giáo người Việt Nam ở nước ngoài.

   Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định về vai trò trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong sự nghiệp GDMN, tại khoản 1 điều 34 quy định của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam và các thành viên như sau:

a, Tuyên truyền giáo dục đoàn viên hội viên và nhân dân chấp hành tốt pháp luật về trẻ em.

b, Vận động gia đình xã hội thực hiện tốt việc bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em.

c, Chăm lo quyền lợi của trẻ em, giám sát và chấp hành pháp luật về trẻ em đưa ra những kiến nghị cần thiết đối với các cơ quan nhà nước hữu quan để thực hiện những nhiệm vụ đó ngăn ngừa những hành vi xâm phạm quyền lợi và ích lợi hợp pháp của trẻ em.

*Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh.

   Đoàn thanh niên cộng sản HCM là tổ chức chính trị - xã hội của đoàn thanh niên phối hợp với các cơ quan nhà nước, các đoàn thể và tổ chức xã hội, tổ chức cho đoàn viên, thanh niên tích cực tham gia vào việc quản lý nhà nước và xã hội.

   Tại địa phương, Đoàn thanh niên Cộng Sản HCM tham gia:

- Tổ chức phát động phong trào đóng góp công sức lao động xây dựng cơ sở vật chất cho  các cơ sở GDMN, làm đồ chơi làm đồ dùng học tập cho trẻ

- Tuyên truyền phổ biến kiến thức CS- GD trẻ cho các bậc cha mẹ và cộng, hỗ trợ tổ chức các buổi tuyên truyền động viên các thành viên của mình tham dự các buổi phổ biến kiến thức.

- Tổ chức các câu lạc bộ hôn nhân, cùng trao đổi phổ biến các kiến thức hôn nhân, gia đình và phụ nữ mang thai.

* Hội nông dân và các tổ chức khác: Hội cựu chiến binh và hội người cao tuổi… Tạo thành một lực lượng hùng hậ, rộng khắp ủng hộ cho sự nghiệp phát triển giáo dục mầm non của địa phương, vận động hội viên tham gia huy động trẻ đến trường mẫu giáo. Tham mưu vơi chính quyền địa phương

Cung cấp mặt bằng  phù hợp với trường mầm non

 

PHẦN II. NỘI DUNG VỀ GIÓA DỤC MẦM NON CHO CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI

II.1. KHÁI NIỆM VỀ MỤC TIÊU VÀ NỘI DUNG TƯ VẤN VỀ GIÁO DỤC MẦM NON CHO CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI.

 

Hoạt động 1: Tìm hiểu mục tiêu tư vấn về giáo dục mầm non cho các tổ chức xã hội.

   Thực hiện tốt công tác tư vấn GDMN cho các tổ chức xã hội sẽ tạo nên sự phối hợp đồng thuận giữa nhà trường và xã hội, góp phần phát triển bậc học mầm non nhằm thực hiện mục tiêu chung, hình thành và phát triển những nét nhân cách đầu tiên hướng đến sự phát triển của trẻ.

Hoạt động tư vấn về GDMN các tổ chức xã hội nhằm mục tiêu:

1, Đáp ứng nhu cầu tư vấn của các tổ chức xã hội tại địa phương về GDMN.

2, Nâng cao nhận thức của tổ chức xã hội, về quyền trẻ em trách nhiệm bảo vệ trẻ em, trách nhiệm bảo vệ trẻ em trong giai đoạn hiện nay.

3, Tăng cường hỗ trợ phát triển GDMN phù hợp với vai trò trách nhiệm của các tổ chức xã hội.

Hoạt động 2: Xác định nội dung tư vấn về giáo dục mầm non cho các tổ chức xã hội.

1, Những căn cứ để xác định nội dung   về tư vấn về giáo dục mầm non của từng tổ chức xã hội.

- Căn cứ vào vai trò trách nhiệm của tổ chức xã hội đối với GDMN.

- Căn cứ vào nhu cầu được tư vấn về GDMN của từng tổ chức xã hội.

- Căn cứ vào trách nhiệm của nhà trường mầm non phối hợp với các cơ quan tổ chức chính trị- xã hôi được quy định tại Luật giáo dục và điều lệ trường mầm non.

2, Nội dung tư vấn về giáo dục mầm non cho các tổ chức xã hội

   Về tổ GDMN có rất nhiều nội dung, tuy nhiên để tư vấn cho các đối tượng làm việc trong các xã hội bạn có thể lựa chọn một số nội dung phù hợp.

2.1. Một số nội dung cụ thể chuyên sâu liên quan đến hoạt động CS-GD trẻ mầm non như sau:

- Đặc điểm phát triển của trẻ ở lứa tuổi mầm non: Sự phát triển bộ não ở trẻ nhỏ, các nhu cầu cơ bản của trẻ ở lứa tuổi này.

- Kiến thức và kỹ năng chăm sóc nuôi dưỡng trẻ: Cách chăm sóc sức khỏe, dinh dưỡng, cách chăm sóc khi trẻ ốm, bảo vệ an toàn cho trẻ, cách phòng bệnh   …

- Phương pháp giáo dục kích thích sự phát triển của trẻ nhỏ: Phát riển ngôn ngữ tình cảm – nhận thức rèn nề nếp, thói quen các quy tắc hành vi, kĩ năng sống cách chơi với trẻ.

2.2 Một só nội dung liên quan đến những vấn đề chung của giáo dục mầm non cần tư vấn cho các tổ chức xã hội.

   Nội dung tư vấn 1: Một số vấn đề GDMN được quy định trong Luật giáo dục, một số nội dung liên quan đến GDMN được quy định trong Luật Giáo dục , vị trí vai trò của GDMN…

   Nội dung tư vấn 2:Quyền trẻ em và bảo vệ trẻ em: Quyền và bổn phận của trẻ em: Quy định pháp luật bảo vệ trẻ em, công ước quốc tế về quyền trẻ em, luật giáo dục luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em…

   Nội dung tư vấn 3: Chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước về phát triển giáo dục mầm non: Đề án phát triển GDMN giai đoạn 2010-2015: Đề án phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi, thông tư hướng dẫn ăn trưa cho trẻ 5 tuổi, mọt số văn bản khác quy định về chính sách nhằm phát triển GDMN.

 

II.2. CÁC NỘI DUNG TƯ VẤN CỤ THỂ

II.2.1. Nội dung tư vấn 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ GIÁO DỤC MẦM NON ĐƯỢC QUY ĐỊNH TRONG LUẬT GIÁO DỤC.

 

Hoạt động 1. Tìm hiểu những nội dung liên quan đến giáo dục mầm non được quy định trong Luật Giáo dục là những nội dung gì?

1. Một số nội dung liên quan đến giáo dục mầm non được quy định trong luật giáo dục.

1.1 Luật giáo dục ngày 2/12/1998 chính thức thừa nhận GDMN là một bộ phận của hệ thống quốc dân, để nuôi dưỡng và chăm sóc giáo dục trẻ em từ 3 tháng đến 6 tuổi. Mục đích của GDMN là giúp trẻ phát triển về thể chất, tình cảm trí tuệ và thẩm mĩ tạo ra các yếu tố ảnh hưởng đến việc hình thành nhân cách và chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1.

Luật giáo dục nêu rõ, có 3 loại trong giáo dục mầm non.

- Nhà trẻ và nhóm trẻ nhận trẻ từ 3-36 háng tuổi.

- Các trường lớp nhận từ 3 – 6 thnags tuổi.

- Trường mầm non là sự kết hợp giữa nhà trẻ và mẫu giáo: nhận trẻ từ 3 tháng tuổi đến 6 tháng tuổi

1.2. Luật Giáo dục sửa đổi ( 2005): Để phù hợp với tình hình kinh tế xã hội trong thời kì mới, ngày 14/7/2005 Luật Giáo dục sửa đổi có ban hành và có hiệu lực thi hành từ tháng 01 tháng 01 năm 2006 đã tạo cơ sở pháp lý để tiếp tục xay dựng và phát triển nền giáo dục nước nhà trong những vấn đề mới của Luật giáo dục 2005 tập chung chủ yếu tại chương III.

   Về loại hình trường: Luật giáo dục 2005 quy định về loại hình giáo dục chỉ gồm: Trường công lập trường dân lập, trường tư thục. Như vậy theo quy định này cơ sở GDMN bán công không còn tồn tại, loại hình bán công sẽ được chuyển sang trường công lập trường dân lập hoặc trường tư thục, tùy điều kiện thực tế tại địa phương.

   Về loại hình cơ sở giáo dục dân lập do cộng đồng dân cư cơ sở thành lập, đầu tư xây dựng và đảm bảo kinh phí hoạt động, chuyển đổi các loại hình GDMN bằng khái niệm mới về cơ sở dân lập bao gồm những quan điểm sau:

- Cơ sở giáo dục dân lập do cộng đồng dân cư ở cơ sở thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và đảm bảo kinh phí hoạt động không vifmucj đích lợi nhuận. Cộng đồng dân cư cấp cơ sở gồm tổ chức và cá nhân tại thôn bản, ấp xã, thị trấn.

- Cơ sở giáo dục dân lập hoạt động trên cơ sỏ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính, nhân lực và được chính quyền địa phương hỗ trợ.

- Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện cho phép thành lập cơ sở giáo dục dân lập, UBND cấp xã trực tiếp quản lý cơ sở giáo dục dân lập.

   Nghị định nêu rõ “ Cơ sở giáo dục dân lập hoạt động trên cơ sở tự chủ tự chịu trách nhiệm về tài chính nhân lực và được  chính quyền địa phương hỗ trợ”. Như vậy các cơ sở mầm non khi chuyển sang loại hình dân lập vẫn tiếp tục được.

   Về chính sách ưu đãi của Nhà nước với trường dân lập, tư thục: Luật giáo dục 2005 dành riêng Mục 4, từ Điều 65  -68, nói về chính sách ưu đãi đối với trường dân lập, tư thục. Điều 48 quy định: Trường dân lập, tư thục được Nhà nước bảo đảm kinh phí để thực hiện kinh phí để được thực hiện kinh phí với người học.

   Tuy nhiên thực tế hiện nay vẫn còn tồn tại sự bất bình đẳng trong đầu tư của nhà cho trẻ mầm non đối với các cơ sở mầm non với  các cơ sở công lập mà chưa đầu tư cho trẻ ngoài công lập.

1.3. Luật giáo dục sửa đổi 2009: Luật giáo dục sửa đổi, bổ sung một số điều của giáo dục được quốc hội thông qua ngày 25/11/2009 và có hiệu lực từ ngày 1/7/2010. Nội dung sửa đổi, bổ sung đã tập chung giải quyết để bức xúc hiện nay. Trong đó có những nội dung sau, tạo cơ sở pháp lý để nhà nước tiếp tục tăng đầu tư có hiệu quả và nâng cao chất lượng GDMN nói chung và trẻ 5 tuổi nói riêng, đặc biệt ở vùng núi và các vùng kinh tế, xã hội còn có nhiều khó khăn. Bổ sung các quy định về yêu cầu công khai tiêu chuẩn về chất lượng giáo dục.

 Hoạt động 2: Tìm hiểu vị trí vai trò của giáo dục mầm non đối với sự phát triển kinh tế giáo dục đất nước.

1. Vị trí của giáo dục mầm non: Giáo dục mầm non là ngành học thuộc hệ thống giáo quốc dân, thu nhận trẻ từ 3- 72 tháng tuổi để chăm sóc giáo dục: Đặt nền móng đầu tiên cho việc hình thành phát triển nhân cách của trẻ và chuẩn bị những tiền đề cần thiết cho trẻ bước vào học phổ thông. Đảm bảo hài hòa giữa  nuôi dưỡng và chăm sóc giáo dục phù hợp với phát triển tâm sinh lí của trẻ em và chuẩn bị những tiền đề cần thiết phát triển cơ thể cân đối khỏe mạnh, nhanh nhẹn, biết kính trọng yêu mến với ông bà cha mẹ và thầy cô giáo.

   Giáo dục mầm non thực hiện nhiệm vụ hướng dẫn cho các bậc cha mẹ những kiến thức khoa học về nuôi dạy trẻ, kết hợp chặt chẽ với gia đình cộng đồng và tổ chức xã hội trong việc chăm sóc giáo dục trẻ.

2. Vai trò của giáo dục mầm non

2.1. Vai trò của giáo dục mầm non trong chiến lược nguồn lực con người

   Trong chiến lược xây dựng nguồn lực con người giáo dục mầm non có vai trò khá đặc biệt. Các nhà giáo coi thời kỳ phát triển của con người ở giai đoạn mầm non là thời kỳ vàng của cuộc đời mỗi con người.

 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Vì lợi ích 10 năm trồng cây vì lợi ích trăm năm trồng người”.

   Liên hiệp quốc dân đã khẳng định: “ Trẻ em hôm nay là thế giới ngày mai” Tất cả đều là những thông điệp nhắc nhở chúng ta một cách trực tiếp rằng đầu tư cho sự phát triển của trẻ em hôm nay tức là chúng ta đã đầu tư cho mai sau.

   Về cơ sở khoa học nghiên cứu đã khẳng định tầm quan trọng của não nhanh nhất ở trẻ từ 0-3 tuổi. Ở lứa tuổi này diễn ra quá trình menlin hóa các sợi dây thần kinh phân hóa về cấu tạo và chức phận giữa các tế  bào vỏ não. Năng lực tư duy trìu tượng gắn liền với sự phát triển vốn có. Vốn từ phát triển thuận lợi nhất ở trẻ 2-3 tuổi từ những tri thức về sinh học phát triển của trẻ em đặt ra cần nhận thức đúng vị trí của GDMN trong chiến lược con người, nếu không trong giáo dục sẽ có những điều quá muộn hoặc  bỏ lỡ cơ hội sau đó muốn bù đắp cũng không được.

   Để nhánh mạnh hơn tầm quan trọng của GDMN đối với sự phát triển của xã hội cũng như vai trò của cộng đồng với xã hội đối với giáo dục mầm non: Tại sao phải đầu tư vào chăm sóc phát triển trẻ thơ từ những năm nhỏ tuổi, coi đây là một phần chiến lược cơ bản? Bởi vì trước khi xây dựng một tòa nhà, ta cần xây cho nó 1 nền tảng bằng đá vững chắc để có toàn bộ công trình kiến trúc đó, trước khi 1 em bé vào trường tiểu học cũng có một nền tảng tương tự. Chính gia đình, cộng đồng và những giá trị văn hóa cộng đồng là những nhân tố tạo nên nền tảng đó.

   Tại họi nghị thế giới về “ Giáo dục cho mọi người” Tại thái Lan tháng 3/1990 đã thể hiện sâu sắc nhận thức. Sự phát triển của trẻ mầm non tạo nền tảng cho việc học tập tiểu học và đóng góp cho cho xã hội trong cuộc sống sau này. Hội nghị còn nhấn mạnh việc học tập phải được bắt đầu từ khi trẻ mới sinh.

2.2. Giáo dục mầm non và vấn đề giải phóng phụ nữ, góp phần giữ vững sự ổn định xã hội.

   Ở Việt Nam, phát triển GDMN không chỉ góp phần giải phóng phụ nữ rút ngắn sự cách biệt trẻ em vùng khó khăn và trẻ em thành thị mà còn góp phần vào công cuộc xóa đói giảm nghèo, giữ vững sự ổn định xã hội.

   Trong xã hội, phụ nữ luôn có một vai trò đặc biệt quan trọng, ngày nay phụ nữ được hưởng nhiều chế độ chính sách ưu tiên thỏa đáng của nhà nước. Tuy nhien vùng kinh tế khố khăn, kém phát triển, phụ nữ vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống thêm vào đó những tập tục lạc hậu càng làm cho người phụ nữ thêm thiệt thòi trong việc hưởng thụ phúc lợi gia đinh và xã hội. Sinh nhiều con nuôi con lớn là trách nhiệm của phụ nữ, công việc gia đình và lao động sản xuất cũng không thoát khỏi bàn tay của phụ nữ, người phụ nữ không được tiếp xúc nhiều với bên ngoài xã hội ít được nắm bắt các thông tin, những tập tục, thói quen nuôi con lạc hậu làm cho đứa trẻ yếu đuối càng làm chất lên người phụ nữ những gánh nặng khôn lường.

   Phát triển giáo dục mầm non sẽ tạo điều kiện cho người phụ nữ, đặc biệt là người mẹ yên tâm hơn trong công tác sản xuất hiểu biết hơn về những kiến thức nuôi dạy con cái, được hưởng nhiều hơn phúc lợi từ gia đình. Điều đó góp phần cải thiện vị thế của người phụ nữ, tạo sự bình đẳng của người phụ nữ và nam giới và góp phần giữ vững ổn định xã hội.

   Để khắc phục những khó khăn thách thức đặt ra cho GDMN hiện nay như kinh phí đầu tư còn quá hạn hẹp so với yêu cầu phát triển, cơ sở vật chất trang thiết bị trường lớp còn lạc hậu và còn thiếu thốn đặc biệt ở những vùng khó khăn, giáo viên thiếu, chất lượng giáo toàn diện còn qua snhieeuf chênh lệch giữa các vùng lãnh thổ, nhận thức về nuôi dạy con cái một cách khoa học của đại bộ phận các cha mẹ còn hạn chế… Thì cần phải tạo được mối liên kết phối kết hợp giữa các ban ngành, tổ chức đoàn thể xã hội dể tuyên truyền phổ biến các kiến thức giáo dục cho các bậc cha mẹ. Đó là một vấn đề cấp thiết hơn bao giờ hết để thể chế hóa chủ chương đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục của Đảng và Nhà nước, tác động mạnh mẽ vào ý thức giáo dục của mọi thành phần trong toàn xã hội, nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục một cách mạnh mẽ.

   Như vậy có thể khẳng định rằng GDMN, với sự cố gắng nỗ lực của mình đã góp phần mở rộng sự nghiệp giải phóng phụ nữ, đặt nền tảng cơ sở cho sự phát triển nguồn lực lao động xã hội trong tương lai.

 

II.2.2. Nội dung tư vấn 2: QUYỀN TRẺ EM VÀ BẢO VỆ TRẺ EM.

Hoạt động 1: Tìm hiểu các quyền và bổn phận của trẻ em

1. Các quyển cơ bản của trẻ em

Quyền của trẻ em được liên hiệp quốc quy định trong công ước quốc tế về quyền trẻ em. Công ước được thông qua và mở cho các nước kí, phê chuẩn và gia nhập theo Nghi Quyết 44/25 ngày 20/11/1989 của Đại Hội đồng Liên hợp quốc và có hiệu lực từ ngày 2/9/1990 theo Điều 49 của công ước. Việt Nam là nước thứ 2 trên thế giới và là nước thứ nhất ở châu á đã kí công ước Quốc tế về Quyền trẻ em vào tháng 2/1991.

 

Trong phạm vi của công ước này, trẻ em có nghĩa là dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn.

 

Mục đích của công ước là tạo điều kiện cho trẻ em phát triển toàn diện về các mặt thể chất, tinh thần, trí tuệ đạo đức và xã hội.

 

Trẻ em là nhóm đối chưa có khả năng tự chăm sóc, tự đáp ứng các nhu cầu của mình và tự bảo vệ bản thân nên cần sự quan tâm, chăm sóc bảo vệ của người lớn. Quy định về các quyền và trách nhiệm chăm sóc bảo vệ và giáo dục trẻ để các em phát triển toàn diện, trở thành những công dân tốt đã được đưa vào các văn bản pháp luật mà mọi người đều có trách nhiệm thực hiện.

1.1.Bốn nguyên tắc chính về thực hiện quyền trẻ em.

- Bình đẳng, không phân biệt đối xử: Mọi trẻ em không phân biệt giới tính, dân tộc tôn giáo, giàu nghèo…Đều phải đối xửa như nhau, không phân biệt

- Vì lợi ích tốt nhất của trẻ em: Trong khi xem xét, giải quyết vấn đề liên quan đến trẻ cần phải quan tâm đến lợi ích của trẻ, không được đặt lợi ích của trẻ em sau lợi ích của người lớn.

- Vì sự sống còn và phát triển của trẻ em: Trong bất kỳ vấn đề nào không được để xảy ra các vấn đề nguy hiểm tới tính mạng, sự sống còn và phát triển của trẻ em.

- Tôn trọng trẻ em: Trẻ em được bày tỏ ý kiến, quan điểm và có tác động đến trẻ, những quan điểm của trẻ phải được tôn trọng một cách thích đáng, phù hợp với độ trưởng thành của trẻ.

1.2 Bốn nhóm quyền trẻ em được quy định trong công ước

- Nhóm quyền sống còn: Do trẻ là những cá thể còn non nớt cả về thể chất lẫn tinh thần, không thể tự nuôi dưỡng của bản thân mình nên trong công ước khái niệm “ Đảm bảo sự sống còn” của trẻ em được mở rộng không chỉ bao gồm việc đảm bảo cho trẻ em được cung cấp chất dinh dưỡng và sự chăm sóc y tế ở mức độ cao nhất.

- Nhóm quyền được phát triển:Công ước đưa ra một cách nhìn toàn diện  về sự phát triển của trẻ em, không chỉ về thể chất mà còn về trí tuệ, tình cảm đạo đức xã hội. Tất cả những quyền của trẻ em được tác động đến quá trình này được coi là nhóm quyền được phát triển. Nhóm quyền này được thể hiện chủ yếu qua mặt chính: Cung cấp chất dinh dưỡng, giáo dục và cung cấp các điều kiện vui chơi giải trí, sinh hoạt văn hóa, nghệ thuật nhóm quyền này bao gồm: Trẻ em có quyền được phát triển, đươcj chăm sóc dinh dưỡng, sức khỏe để phát triển thể lực: Chăm sóc giáo dục được đi học để phát triển về nhận thức có hiểu biết trí tuệ.

- Nhóm quyền được bảo vệ: Khái niệm bảo vệ trẻ em không dừng lại ở việc xâm hại về thể chất và tinh thần với trẻ em mà còn bao gồm cả việc ngăn ngừa và khắc phục những điều kiện bất lợi đối với cuộc sống trẻ em. Theo công ước, nhóm quyền này bao gồm các quyền của trẻ em được bảo vệ khỏi các hình thức bóc lột, xâm hại, sao nhãng.

- Nhóm quyền được tham gia: Nhóm quyền này bao gồm tất cả các quyền giúp trẻ em có thể biểu đạt dưới mọi hình thức những ý kiến, quan điểm của bản thân về các vấn đề liên quan trong cuộc sống của trẻ. Có 3 yêu cầu trong việc thực hiện nhóm quyền này đó là giúp trẻ có điều kiện tiếp nhận thông tin, giúp trẻ được biểu đạt ý kiến, quan điểm của trẻ.

   Cần hiểu rằng, sự phân chia các quyền cụ thể vào bốn nhóm quyền của trẻ như vậy chỉ mang tính tương đối. Vì bốn nhóm quyền này có mối liên hệ với nhau bổ xung cho nhau và không thể tách rời. Các mặt của đời sống trẻ em được đề cập trong từng nhóm quyền có liên quan chặt chẽ và ảnh hưởng lẫn nhau. Ví dụ quyền được cung cấp chất dinh dưỡng có liên quan trực tiếp đến quyền được sống còn và quyền được phát triển, nhưng cũng liên quan đến quyền được bảo vệ.

   Chúng ta thấy rằng, một trong những quyền cơ bản của trẻ em đó là quyền được chăm sóc, quyền được học tập, quyền được vui chơi. Do đó việc tìm ra phương thức để phát triển GDMN, đặc biệt là nâng chất lượng GDMN nông thôn, vùng sâu, vùng khó khăn là một trong những nhiệm vụ cấp bách của ngành học mầm non, nhằm thực hiện quyền cơ bản của trẻ em, đồng thời góp phần rút ngắn khoảng cách hưởng thụ GDMN giữa trẻ em các vùng với các điều kiện, môi trường sống khác nhau, tuy nhiên trong cuộc sống hiện nay mức độ trẻ em được hưởng thụ GDMN rất chênh lệch giữa vùng thành thị và vùng nông thôn, giữa người giàu và người nghèo…

2. Bổn phận của trẻ em

2.1 Một số bổn phận của trẻ em

   Quyền đi đôi với trách nhiệm, bổn phận của trẻ là những việc trẻ phải làm theo đạo lý, quy định phù hợp với lứa tuổi của mình. Luật bảo vệ , chăm sóc và giáo dục trẻ em ban hành năm 1991 và sửa đổi năm 2004 dựa trên 5 điều Bác Hồ dạy thiếu niên nhi đồng, phù hợp với những giá trị văn hóa, đạo đức của người Việt nam đã quy định bổn phận của trẻ em như sau

- Yêu quý kính trọng và hiếu thảo với ông bà, cha mẹ, kính trọng thầy cô giáo, lễ phép với người lớn, thương yêu em nhỏ đoàn kết với bạn bè…

- Chăm chỉ học tập, giữ gìn vệ sinh cá nhân, rèn luyện thân thể, thực hiện trật tự công cộng và an toàn giao thông, giữ gìn của công tôn trọng tài sản của người khác.

- Yêu lao động giúp đỡ gia đình làm việc phù hợp sức mình.

- Sống khiêm tốn, trung thực và có đạo đức, tôn trọng pháp luật, tuân theo nội quy của nhà trường, thực hiện nếp sống văn minh, gia đình văn hóa tôn trọng, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.

- Yêu quê hương, đất nước, yêu đồng bào, có ý thức xây dựng bảo vệ tổ quốc và doàn kết quốc tế.

2.2. Những điều trẻ không được làm

   Điều 22 luật bảo vệ, chăm sóc giáo dục trẻ quy định những điều trẻ em đang được làm, những quy định này nhằm răn đe, mà chỉ nhằm giáo dục cho trẻ hiểu và tránh xa các hành vi xấu trái pháp luật và có trách nhiệm với trách nhiệm của mình.

   Cụ thể là những điều trẻ em không được làm:

- Không được tự ý bỏ học, sống lang thang.

- Không được xâm phạm tính mạng, thân thể, nhân phẩm, danh dự, tài sản của người khác, gây rối trật tự công cộng.

- Không được đánh bạc sử dụng rượu bia, thuốc lá chất kích thích khác có hại cho sức khỏe.

- Không được trao đổi, văn hóa phẩm có nội dung kích động bạo lực, đồi trụy, hoặc đồ chơi có hại cho sự phát triển lành mạnh.

 

Hoạt động 2: Tìm hiểu các văn bản pháp luật và quyền trẻ em

1. Luật giáo dục (2005)

- Điều 72 quy định nhà giáo phải tôn trọng nhân cách của người học, đối xủa công bằng với người học, bảo vệ quyền lợi ích lợi chính đáng của người học.

- Điều 25 quy định nhà giáo không có hành vi xúc phạm danh dự, xâm phạm thân thể người học.

- Điều 118 quy định người nào có một trong những hành vi xâm phạm nhân phẩm của nhà giáo, ngược đãi hành hạ, người học thì tùy theo tính chất mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạm vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. Nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

2. Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo trẻ em(2004)

- Điều 7 quy định nghiêm cấm các hành vi hành hạ, danh dự của người khác và áp dụng biện pháp có tích chất xúc phạm, hạ thấp danh dự, nhân phẩm hoặc nhục hình đối với trẻ em vi phạm pháp luật.

3. Luật hôn nhân và gia đình(2006)

- Điều 34 quy định cha mẹ không được phân biệt đối xử giữa các con, ngược đãi hành vi xúc phạm con cái.

- Điều 107 quy định người nào hành hạ ngược đãi, xúc phạm danh dự nhân phẩm ông bà, cha mẹ, vợ chồng con cái và các thành viên trong gia đình tùy theo tính chất mức độ vi phạm mà bị xủa lý hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường.

 

II.2.3: Nội dung tư vấn 3: MỘT SỐ CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC MẦM NON.

Hoạt động 1: Tìm hiểu đề án phát triển giáo dục mầm non giai đoạn 2010 - -2015.

    Phát triển GDMN là quan điểm, chính sách nhất của Đảnh và nhà nước ta từ trước đến nay. Mấy chục năm qua, chính sách này vẫn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt các văn kiện Đại Hội Đảng và được thể chế hóa bằng luật giáo dục và hàng loạt các văn bản dưới luạt nhằm phát triển GDMN.

    Đối với đối tượng tư vấn là các đối tượng xã hội bạn cần nghiên cứu một số chính sách của Nhà nước mới ra trong thời gian gần đây và hiện được chú trọng tại tại địa phương.

   Ngày 23/6/2006, Thủ tướng chính phủ đã ban hành quyết định số 149/2006/QĐ- TTg phê duyệt đề án Phát triển giáo dục “2006-2015”.

   Đề án nhằm mục tiêu:

- Đào tạo bồi dưỡng nâng cao chất lượng giáo viên mầm non, phấn đấu để có 80% giáo viên đạt chuẩn trình độ đào tạo năm 2010 và 100% 2015.

- Củng cố mở rộng mạng lưới trường lớp, nâng tỷ lệ trẻ dưới 3 tuổi đến nhà trẻ, nhóm trẻ từ 15% năm 2005 lên 20% năm 2010 và đạt  đến 99% năm 2015…

- Nâng tỷ lệ cơ sở giáo dục mầm non đạt chuẩn quốc gia lên 50% năm 2015.

- Nâng cao chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ trong cơ sở giáo dục mầm non, cần cho trẻ phát triển tư duy sáng tạo thông qua hoạt động, vui chơi và làm quen với lớp học mới.

- Tăng tỷ lệ các bậc cha mẹ có con ở lứa tuổi mầm non được cung cấp và áp dụng kiến thức kĩ năng cơ bản về nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục trẻ và đạt 90% năm 2015.

Hoạt động 2: Tìm hiểu những điểm chính của đề án giáo dục mầm non cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi.

   Ngày 9/2/2010, chính phủ ban hành Quyết định số 239/QĐ-TTg phê duyệt phổ cập GDMN cho trẻ em giai đoạn 2010-2015

   Đề án PCGD cho trẻ em 5 tuổi với mạc tiêu củng cố mở rộng mạng lưới, trường lớp đảm bảo đến năm 2015 có 95% số trẻ trong độ tuổi 5 tuổi học 2 buổi trên 1 ngày.

   Đề án gồm 4 dự án: Xây dựn phòng học, phòng chức năng theo quy định của điều lệ trường mầm non.

   Tăng cường hỗ trợ và ưu tiên đầu tư các vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, vùng núi vùng xâu xa, hải đảo biên giới theo hướng xây dựng các trường mầm non công lập kiên cố đạt chuẩn.

2. Tính khả thi của Đề án phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi

- Tùy các địa phương đưa ra lộ trình và quyết tâm thự hiện đề án, phổ cập mầm non điều đáng lo nhất là thiếu lớp học.

- Bên cạnh cơ sở vật chất, yếu tố đội ngũ nhà giáo đóng vai trò quan trọng quyết định sự thành công của đề án.

- Giải pháp tình thế nhằm thực hiện mục tiêu phổ cập giáo dục, các địa phương tự mỏe rộng hình thức xã hội hóa giáo dục , khuyến khích mở trường lớp tư thục tìm kinh phí…

 

Hoạt động 3: Tìm hiểu những vấn đề chính trong thông tư hướng dẫn hỗ trợ ăn trưa cho trẻ 5 tuổi ở cơ sở GDMN

    Thông tư liên tịch hỗ trợ ăn trưa cho trẻ 5 tuổi ở các cơ sở GDMN, mức hỗ trợ là 120.000/ tháng/ cháu, được hướng theo thời gian học thực tế.

   Theo thông tư có 3 đối tượng trẻ 5 tuổi được hỗ trợ ăn trưa: Thứ nhất có ba mẹ làm việc tại miền núi hải đảo xa xôi, vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, thứ 2 trẻ mồ côi cả cha lẫn mẹ, tàn tật..thứ 3 trẻ thuộc hộ nghèo theo quy định của nhà nước.

   Tiền hỗ trợ chi trả trẻ 2 lần trên năm.

 

PHẦN III: PHƯƠNG PHÁP TƯ VẤN CHO TRẺ MẦM NON CHO CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI

Hoạt động 1: Phương pháp tư vấn về giáo dục mầm non cho các tổ chức xã hội.

1. Phương pháp điều tra phỏng vấn

   Để có thể thực hiện công tác tư vấn về GDMN cần dành thời gain tìm hiểu nhu cầu tư vấn về GDMN của các tổ chức xã hội thông qua hoạt động điều tra, phỏng vấn các đối tượng có nhu cầu cần tư vấn.

   Trong quá trình điều tra phỏng vấn bước đầu người giáo viên mầm non tư vấn giuos người được tư vấn nhận ra mình là ai, thuộc tổ chức xã hội nào, phải có trách nhiệm, vai trò gì đối với GGDMN.

   Như vậy trước khi thực hiện các công tác tư vấn bạn có càng nhiều những thông tin từ người cần được tư vấn càng có hiệu quả tốt.

2. Phương pháp tọa đàm.

3. Phương pháp tọa đàm nhóm

Hoạt động 2: Tìm hiểu tư vấn về hình thức giáo dục mầm non cho các tổ chức xã hội.

   Các hoạt động tư vấn cho tổ chức xã hội có thể thông qua nhiều hình thức khác nhau. Căn cứ vào mục đích nội dung yêu cầu của đối tượng được tư vấn…

1. Tư vấn trực tiếp cá nhân/ nhóm; Các lãnh đạo là nhà đại diện các tổ chức xã hội có thể yêu cầu tư vấn về một vấn đề gì đó liên quan đến GDMN, khi đó giáo viên mầm non phải phải làm việc trực tiếp  với 1 nhóm hoặc 1 nhóm nhỏ (2-3 người)

2. Tư vấn nhóm: Hoạt động tư vấn có thể tổ chức cho một tổ chức xã hội hoặc với một số tổ chức với số lượng lớn.

3. Tư vấn thông qua các tổ chức các hội họp, hội nghị hội thảo, báo các chuyên đề: Chính là cơ hội tốt nhất để các tổ chức xã hội nhận được nhiều thông tin về GDMN một cách tự nhiên.Tuy nhiên hình thức này sự tương tác giữa các tư vấn viên và các đối tượng bị hạn chế.

4. Tư vấn qua thư điện thoại: Hình thức này rất tiện lợi và kịp thời nhưng tốn kém sự tương tác của người tư vấn và người được tư vấn bị hạn chế trong việc sử dụng ngôn ngữ cơ thể và sự tương tác lẫn nhau..

5. Tư vấn qua phương tiện giao thông tin đại chúng: Các đài phát thanh truyền hình địa phương và trung ương truyền hình các buổi tư vấn về GDMN được quay trực tiếp hoặc những kịch bản những câu truyện cuốn phim về chăn sóc GMN.

6. Tư vấn trang web: Hình thức tư vấn này phù hợp với các đối tượng có điều kiện sử dụng mạng, họ có thể trao đổi kinh nghiệm, tranh luận nhau về các vấn đề liên quan đến GDMN.

 

PHẦN IV: THỰC HÀNH TƯ VẤN VỀ GIÁO DỤC MẦM NON CHO CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI.

1. Bài tập thực hành: Lập kế hoạch tư vấn cho cán bộp hội phụ nữ xã phường về chính sách của nhà nước với trẻ mầm non 5 tuổi ra lớp có hiệu quả.

1.1 Để thực hiện bài thực hành bạn cần thực hiện những việc sau

- Đọc lại các phần nội dung liên quan đến tư vấn GDMN cho các tổ chức xã hội, đặc biệt là phần nội dung về “Để án phổ cập cho trẻ 5 tuổi” giai đoạn 2010- 2015.

- Lập kế hoạch tư vấn cho cán bộ hội phụ nữ xã phường và chính sách của nhà nước đối với trẻ 5 tuổi.

1.2. Ví dụ gợi ý về kế hoạch tư vấn cho cán bộ hội phụ nữ xã phường

- Mục đích tư vấn: Củng cố bổ xung thông tin về chính sách của nhà nước đối với trẻ 5 tuổi và cung cấp tư liệu cho cán bộ.

- Nội dung tư vấn: Chính sách của Nhà nước đối với trẻ 5 tuổi cần tuyên truyền cho các bậc cha mẹ đưa trẻ đến lớp.

- Thời gian tư vấn : 1 buổi

- Tài liệu cần chuẩn bị: “ Đề án phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi giai đonạ 2010- 2015”. Thông tư liên tịch 29/2011/TTLT – BGDDT-BTC hướng dẫn chi hỗ trợ ăn trưa cho trẻ.

- Phương pháp: Nếu số lượng (ít 1-3 người) thì sẽ sử dụng phương pháp tọa đàm  cá nhân trẻ. Nếu số lượng đông thì có thể sử dụng phương pháp thảo luận nhím dưới hình thức tư vấn nhóm.

Hoạt động 2: Bài tập thực hành

2. Bài tập thực hành 2: Lập kế hoạch tư vấn cho cán bộ hội khuyến học xã phường về chính sách của nhà nước đối với cơ quan giáo dục mầm non.

2.1 Để thực hiện bài tập thực hành cần làm những việc sau

- Đọc lại các phần nội dung liên quan tư vấn về GDMN cho các tổ chức xã hội, đặc biệt  là phần nội dung về vị trí vai trò của GDMN đối với sự phát triển KT-XH của đất nước các loại hình cơ sở GDMN được quy định trong luật giáo dục.

- Lập kế hoạch tư vấn cho hội khuyến học xã phường về chính sách của nhà nước đối với cơ sở GDMN.

2.2. Ví dụ gợi ý về kế hoạch về tư vấn cho cán bộ hội khuyến học xã phường.

- Mục đích tư vấn: Củng cố bổ xung thông tin chính sách của Nhà nước đối với các cơ sở giáo dục mầm non và cung cấp tư liệu để cán bộ hội khuyến học có cơ sở tổ chức hoạt động toàn dân tham gia các cơ sở mầm non.

- Nội dung tư vấn: Chính sách của nhà nước với các cơ sở GDMN, cách tuyên truyền toàn dân tham gia hoạt động hỗ trợ GDMN.

- Thời gian tư vấn : 1 buổi

3. Ví dụ về hoạt động thực tế tại địa phương

MỘT SỐ KINH NGHIỆM

   Phối hợp với các tổ chức xã hội nhằm phát triển GDMN tại Tỉnh Hòa Bình.

   Tổng kết kết quả thực hiện nhiệm vụ học kỳ I năm học 2011- 2012 của ngành học GDMN, cơ sở GD&ĐT nhằm phát triển cơ sở GD của địa phương như sau

1. Nội dung phối hợp với các tổ chức xã hội.

* Đối với Hội Liên Hiệp Phụ nữ

- Tham gia ý kiến với hội đồng giáo dục: Ban chỉ đạo phổ cập giáo dục chống mù chữ nói chung và ban chỉ đạo GDMN nói riêng, ban chỉ đạo xây dựng trường chuẩn quốc gia, ban chỉ đạo các hội thui, ban chỉ đạo phòng chống suy dinh dưỡng.

- Thực hiện vận động hội viên có con trong độ tuổi đưa con đến trường và đóng góp cho con ăn tại trường.

- Tổ chức hướng dẫn phương pháp nuôi dạy con theo khoa học: Cách chế biến món ăn đủ chất dinh dưỡng, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, thực hiện thao tác vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường cho trẻ.

- Hướng dẫn cha mẹ chuẩn bị các vấn đề cho trẻ đi học: kĩ năng tự chăm sóc bản thân…

- Phối hợp nhà trường trong việc lựa chon sưu tầm nội dung học, làm đồ dùng cho việc phục vụ GDMN theo chủ.

- Vận động các doanh nghiệp, cá nhân ủng hộ trường mầm non xây dựng trường chuẩn quốc gia: Vật liệu ngày công san lấp mặt bằng, ủng hộ cây xanh chậu hoa.

- Tham gia lao động, tham gia làm vườn rau sạch của trường mầm non.

 

*Đối với khuyến học

- Tham gia hội viên Hội Đồng giáo dục các cấp.

- Vận động nguồn lực chăm lo cho đến những đối tượng giáo viên, học sinh khó khăn nhưng vượt khó để có kết quả cao.

- Tham gia tặng quà tặng tiền, khen thưởng nững tập thể cá nhân có thành tích cao.

* Đối với mặt trận tổ quốc

- Tham gia ý kiến phát triển giáo dục với hội đồng nhân dân các cấp

- Là thành viên trong ban Văn hóa-xã hội của tỉnh tham gia giám sát các hoạt động phản ánh tỉnh ủy hội đồng nhân dân, UBND với ban ngành liên quan.

* Đối với thanh niên

- Phối hợp quan tâm đến hoạt động, thực hiện các chính sách cho thiếu niên nhi đồng.

- Phối hợp tổ chức ngày lễ, tết và ngày công theo đề xuất của giáo dục

2. Kết quả đạt được

   Các chính của tỉnh được quan tâm thực hiện như: Giáo viên được hưởng lương theo ngạch bậc và tăng lương theo định kỳ.

   Cơ sở vật chất được quan tâm đầu tư khang trang, sạch sẽ đến vùng sâu, vùng khó khăn. Nhiều nhà trường có môi trường xanh sạch đẹp.

   Nhận thức các ngành các cấp về giáo dục rất tốt vì vậy đã ủng hộ  phát triển giáo dục một cách có trách nhiệm, tập chung trí tuệ.

3. bài học kinh nghiệm

- Các hoạt động trọng tâm của giáo dục mầm non cần có sự tham gia chính thức của các tổ chức xã hội.

- Phân công nhiệm vụ cụ thể, phù hợp với từng tổ chức xã hội.

- Tuyên truyền nâng cao nhận thức của người đứng đầu các tổ chức xã hội về giáo dục mầm non, mời họ tham gia các hoạt động, kiểm tra giám sát cơ sở GDMN để họ hiểu, góp tiếng nói chung với ngành giáo dục đưa ra những đề xuất về những vấn đề cấp bách, những vấn đề thúc đảy giáo dục mầ non phát triển.